15.4.14

    Thông báo số 11 của những người dự dịnh thành lập HHDO




    9.4.14

    Đơn tố cáo của những thành viên dự định thành lập HDOVN

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


    TPHCM, ngày 09 tháng 04 năm 2014
    ĐƠN TỐ CÁO
    ( Về việc ông Vụ trưởng vụ tổ chức phi chính phủ và ông Chánh thanh tra
    Bộ Nội vụ ra văn bản trái luật ,cản trở quyền con người, quyền công dân )


    Kính gửi : Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ
    Người tố cáo:
    -  Phạm Thị Dung Mỹ (tức Lê Hiền Đức)
    Địa chỉ: Nhà số 7, ngõ 56,  Phố Pháo Đài   Láng, Đống Đa, Hà Nội. Số điện thoại: 01237485996
    - Nguyễn Xuân Ngữ .
    Địa chỉ: Phòng C9 nhà số 41 đường Tân Nhơn Phú, P.Phước Long B, Quận 9. Tp.Hồ Chí Minh. Số điện thoại: 0966701379
    -     
    Người bị tố cáo:
    -  Ông Nguyễn Tiến Thành – Vụ trưởng vụ các tổ chức phi chính phủ
    -   Ông Đặng Thanh Tùng – Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ
    Căn cứ Hiến pháp năm 2013, Luật Khiếu nại 2011, Luật Tố cáo 2011, chúng làm đơn này tố cáo những hành vi ra văn bản trái luật, xâm phạm quyền công dân của ông Vụ trưởng vụ tổ chức phi chính phủ ông Chánh thanh tra Bộ Nội vụ.
    Chúng tôi xin trình bày cụ thể như sau:
    I. Tóm tắt vụ việc:
    Ngày 31/12/2013, ông Nguyễn Xuân Ngữ đã gửi thông báo về việc thành lập Ban vận động Hiệp hội dân oan Việt Nam (HHDOVN) do bà Lê Hiền Đức đứng đầu, đến :
    - Ông Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội
    - Ông Nguyễn Thái Bình – Bộ trưởng Bộ Nội vụ
    Đề nghị Quốc hội và Bộ Nội vụ hướng dẫn thành lập HHDOVN, để công dân thực thi quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp 2013 vừa được Quốc hội thông qua. Mục đích của Hiệp hội này nhằm đoàn kết, tương trợ lẫn nhau để bảo vệ những người vì nhiều lý do khác nhau trở thành dân oan, đồng thời tạo một tiếng nói chung để yêu cầu Đảng, chính quyền các cấp quan tâm đến quyền của người dân oan bị xâm phạm.

    Ngày 28/02/2014, chúng tôi có nhận được văn bản trả lời số số 559/BNV-TCPCP với những nội dung sau:
    1) Cho rằng việc tự quyết định thành lập Ban vận động thành lập HHDOVN và thông báo đến cơ quan Nhà nước quản lý là trái với quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.
    2) Cho rằng việc đề nghị thành lập HHDOVN là không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

    Ngày 13/03/2014, chúng tôi đã gửi đơn khiếu nại hành vi ký và ban hành văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 của ông Nguyễn Tiến Thành – Vụ trưởng vụ Tổ chức phi chính phủ Bộ Nội vụ. Nội dung của đơn khiếu nại nêu rõ việc văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cụ thể là quyền tự do lập hội, trái Hiến Pháp 2013 và trái Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đồng thời đơn khiếu nại của chúng tôi một lần nữa nêu rõ các điều khoản trong bản Hiến pháp 2013 quy định quyền tự do lập hội và khẳng định không làm trái khoản 1 Điều 6 Nghị định 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ. Chúng tôi cũng đề nghị ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ thụ lý giai quyết khiếu nại, tổ chức đối thoại với Luật sư và đại diện những người khiếu nại, thu hồi văn bản số 559/BNV-TCPCP và có hình thức kỷ luật ông Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thành vì đã không hiểu Hiến pháp 2013 và pháp luật, cấm và hạn chế trái Hiến pháp việc thực hiện quyền tự do dân chủ của những dân oan, công dân Việt Nam.

    Ngày 26/03/2014, chúng tôi có nhận được văn bản số 975/TB-BNV do ông Đặng Thanh Tùng – Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ thông báo về việc không giải quyết khiếu nại (cụ thể là đơn khiếu nại của chúng tôi ngày 13/03/2014) với nội dung khẳng định việc đề nghị thành lập Hiệp hội dân oan Việt Nam là không phù hợp với pháp luật, và văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 không liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của chúng tôi.
    II. Những hành vi vi phạm bị tố cáo:
    1) Ông Đặng Thanh Tùng - Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ ra văn bản trả lời số 975/TB-BNV là trái thẩm quyền. Theo điều 27, Luật Khiếu nại năm 2011, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại hoặc trong trường hợp không thụ lý giải quyết phải thông báo lý do cho người khiếu nại. Theo quy định tại khoản 1, điều 23, luật Khiếu nại năm 2011, giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của cán bộ công chức do mình quản lý trực tiếp là thẩm quyền của Bộ trưởng. Trong trường hợp này, chúng tôi khiếu nại hành vi ký và ban hành văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 của ông Nguyễn Tiến Thành – Vụ trưởng vụ Tổ chức phi chính phủ Bộ Nội vụ, như vậy, người thụ lý đơn khiếu nại của chúng tôi phải là ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, nếu không thụ lý, ông Bộ trưởng phải ra văn bản nêu rõ lý do theo điều 27, Luật Khiếu nại 2011. Như vậy ông Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ trả lời về việc không thụ lý khiếu nại của chúng tôi là vượt quá thẩm quyền, trái Luật Khiếu nại 2011
    2) Lý do ông Chánh Thanh tra Bộ Nội vụ không thụ lý khiếu nại là văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chúng tôi. Lý do này không xác đáng, chứng tỏ ông Chánh thanh tra không hiểu pháp luật, Hiến pháp. Theo điều 25 Hiến pháp 2013, công dân có quyền lập hội. Như vậy, chúng tôi (Lê Hiền Đức, Nguyễn Xuân Ngữ và các dân oan khác) có quyền lập hội, trong đó có quyền lập một hội có tên Hiệp Hội Dân Oan Việt Nam. Văn bản số 559 nêu trên đã cấm, cản trở chúng tôi thành lập HHDOVN, tức ảnh hưởng trực tiếp đến một quyền hợp pháp của chúng tôi đã được Hiến pháp ghi nhận – quyền lập hội.
    3) Văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 và văn bản số 975/TB-BNV ngày 26/03/2014 đã xâm phạm đến quyền của chúng tôi, cụ thể là quyền lập hội theo điều 25 Hiến Pháp 2013 và quyền khiếu nại theo điều 30 Hiến pháp 2013.
    4) Văn bản số 559/ BNV-TCPCP không căn cứ vào Hiến pháp và Luật. Theo khoản 2, điều 14 Hiến pháp 2013, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể hạn chế theo luật định trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Ông Nguyễn Tiến Thành nếu muốn hạn chế quyền thành lập HHDOVN của chúng tôi phải nêu rõ căn cứ ghi trong Hiến pháp và Luật. Ông Thành đã không nêu được căn cứ nào theo Hiến pháp và Luật nhưng vẫn cấm chúng tôi thành lập HHDOVN là không thể chấp nhận được, chứng tỏ ông Thành không hiểu pháp luật và Hiến pháp.
    5) Để tỏ thiện chí, tuân theo Luật, chúng tôi và Luật sư đã nhiều lần đến Bộ Nội vụ để đề nghị cán bộ Bộ Nội vụ hướng dẫn thủ tục, nhưng cán bộ Bộ Nội vụ đều trốn tránh hoặc khi tiếp (một chuyên viên thường) cũng không hướng dẫn, không giải thích, không nêu được căn cứ pháp lý và cũng không dám trao đổi về mặt pháp luật đối với trường hợp của chúng tôi. Như vậy cán bộ Bộ Nội vụ nói chung và các vị lãnh đạo cấp, vụ nói riêng của Bộ Nội vụ đều tỏ ra thiếu hiểu biết pháp luật hoặc thiếu bản lĩnh khi giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền tự do dân chủ của công dân.
    III. Yêu cầu
    1) Chúng tôi yêu cầu ông Bộ trưởng Bộ Nội Vụ thụ lý đơn tố cáo này của chúng tôi theo đúng quy định của Luật Tố cáo và báo cho chúng tôi được biết.
    2)     Yêu cầu Lãnh đạo Bộ Nội vụ (Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng) tổ chức đối thoại với những người tố cáo và luật sư, cùng sự chứng kiến của những nhà báo, chuyên gia pháp lý, đại biểu Quốc hội để tìm hướng giải quyết đơn thư của chúng tôi, nhằm đảm bảo quyền tự do dân chủ của Hiến pháp 2013 phải được thực thi.
    3)     Yêu cầu Bộ Nội vụ phải thu hồi và hủy bỏ Văn bản số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 và văn bản số 975/TB-BNV ngày 26/03/2014 vì những lý do nêu trên.
    4)     Yêu cầu ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ có hình thức kỷ luật ông Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thành do không hiểu Hiến pháp 2013 và pháp luật, cấm và hạn chế trái Hiến pháp việc thực hiện quyền tự do dân chủ của những dân oan, công dân Việt Nam; kỷ luật ông Chánh Thanh tra Đặng Thanh Tùng vì đã vi phạm luật Khiếu nại, không hiểu pháp luật và Hiến pháp, xâm phạm đến quyền khiếu nại của chúng tôi.
    5)     Yêu cầu Lãnh đạo Bộ xin lỗi những dân oan Việt Nam vì đã làm tổn thương đến quyền tự do dân chủ (quyền lập hội) của những dân oan Việt Nam
    6)     Yêu cầu Lãnh đạo Bộ tiếp tục hướng dẫn chúng tôi thực hiện quyền tự do lập hội (lập HHDOVN) theo Hiến pháp 2013 và pháp luật hiện hành
    IV. Thông báo của chúng tôi: 
     
    Trong trường hợp Lãnh đạo Bộ Nội vụ không thụ lý đơn tố cáo và tiếp tục cho rằng công văn số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 không liên quan trực tiếp đến quyền , lợi ích hợp pháp của chúng tôi, (tức không liên quan đến quyền lập hội của chúng tôi, cụ thể là quyền thành lập HHDOVN), chúng tôi sẽ cho rằng chính Bộ Nội vụ khẳng định quyền lập hội của chúng tôi theo Hiến pháp, cụ thể là quyền thành lập HHDOVN không bị ảnh hưởng bởi công văn số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014. Nói cách khác, như vậy Bộ Nội vụ cho rằng công văn số 559 này không có giá trị đến việc thành lập HHDOVN của chúng tôi . Trong trường hợp này, chúng tôi sẽ tiếp tục thực thi quyền lập hội theo Hiến pháp 2013, cụ thể là quyền lập HHDOVN. Bộ Nội vụ không có quyền ngăn cản chúng tôi thực thi quyền này. Trong quá trình thành lập HHDOVN, Bộ Nội vụ phải chịu trách nhiệm mọi vấn đề xảy ra do Bộ Nội vụ không hướng dẫn, giải quyết cho chúng tôi thực thi quyền thành lập HHDOVN.
    Chúng tôi làm đơn này đề nghị ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhanh chóng thụ lý đơn này, nghiên cứu kỹ Hiến pháp 2013 để giải quyết đơn thư của chúng tôi theo đúng quy định của pháp luật , có hình thức kỷ luật các cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật, hướng dẫn chúng tôi trong việc thực thi quyền công dân, quyền con người. 
     
    Rất mong ông Bộ trưởng trực tiếp thông báo bằng văn bản về việc thụ lý đơn này cho chúng tôi trước ngày 24/04/2014
    Trân trọng cám ơn!
    Những người tố cáo 
    Nguyễn Xuân Ngữ                              Phạm Thị Dung Mỹ
                                                                (Lê Hiền Đức)


    Văn bản gửi kèm theo những tài liệu sau:
    -         Thông báo của ông Nguyễn Xuân Ngữ gửi ông Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Sinh Hùng và ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ: Nguyễn Thái Bình (Bản sao)
    -         Thông báo số 559/BNV-TCPCP ngày 28/02/2014 của Bộ Nội vụ (Bản sao)
    -         Đơn khiếu nại hành vi hành chính (Về hành vi ký và ban hành văn bản trả lời số 559/BNV-TCPCP của Bộ Nội Vụ) (Bản sao)
    -         Thông báo số 975/TB-BNV ngày 26/03/2014 của Bộ Nội Vụ (Bản sao)



    7.4.14

    CÁO PHÓ


    Chúng tôi những ngưởi dự định thành lập

    HIỆP HỘI DÂN OAN VIỆT NAM

    VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

    Gửi đến gia quyến

    THẦY GIÁO ĐINH ĐĂNG ĐỊNH
    Lời chia buồn sau sắc cùng với tình cảm tiếc thương vô hạn 
     
    THẦY GIÁO ĐINH ĐĂNG ĐỊNH

    MỘT NHÀ GIÁO YÊU NƯỚC, MỘT NGƯỜI DÂN OAN VIỆT NAM ĐÃ NÊU CAO TẤM GƯƠNG : DÙ KHÓ KHĂN THIẾU THỐN, DÙ SỨC TÀN LỰC KIỆT, VẪN GẮNG GƯỢNG ĐƯA HẾT NGHỊ LỰC, TÂM TRÍ ĐẤU TRANH . MONG CHO NGƯỜI DÂN VIỆT NAM CÓ QUYỀN SỐNG THẬT SỰ CỦA MỘT CON NGƯỜI , QUYỀN .


    BAN DỰ ĐỊNH THÀNH LẬP HỘI DÂN OAN VIỆT NAM



    30.3.14

    Nhà nước đang chửa lửa bằng xăng dầu.



    Người dân đang sống ổn định bỗng nhiên bị mất đất, mất nhà, mất công ăn việc làm… trở thành dân oan với tấm lòng đầy trĩu uất hận và căm tức, đó là một thực trạng không thể phủ nhận trong xã hội Việt Nam ngày nay. 

    Xin trích lại phần dẫn nhập loạt bài có tựa đề: Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm, TP Hồ Chí Minh Vùng đất vàng bỏ hoang 17 năm xảy ra nhiều tiêu cực, đăng liên tục trên 7 số báo Người cao tuổi từ ngày 2-10-2013, như sau:

    Trên 14.500 hộ dân đang sinh sống ổn định, đành ngậm ngùi bỏ xứ ra đi để giao nhà, giao đất xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm, một dự án lớn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 367/TTg ngày 4/6/1996. Sau 17 năm, khu đất vàng nầy bị bỏ hoang, quy hoạch bị xé nát do UBND thành phố “cấp phát” đất cho 64 doanh nghiệp. Tiêu cực xảy ra quá nhiều, gần 3.000 nhà dân nằm ngoài ranh quy hoạch bị cưỡng chế, nhà cửa bị đập phá tan tành. Hơn 11.000 đơn khiếu kiện kéo dài, một số người chết oan do hành vi cưỡng chế trái phép. Với 38.000 tỉ đồng tiền hỗ trợ di dời đã được giải ngân, Nhà nước phải mất 150 tỉ đồng tiền lãi/tháng. Nguyên nhân dẫn tới nhiều nỗi đau cho hàng chục nghìn hộ dân là do hành vi làm trái quyết định của Thủ tướng Chính phủ!...”
    Khu đô thị mới Thủ Thiêm chỉ là một trong rất nhiều dự án của TP Hồ Chí Minh. Nếu tính trên toàn thành phố và trên các tỉnh, thành phố khác, cứ mỗi nơi có vài trăm dự án, thì trong cả nước số nạn nhân phải chịu oan sai do nạn thu hồi đất sẽ lên đến bao nhiêu?
    Vì vậy, thật là chẳng tốt đẹp chút nào cho bộ mặt của chế độ khi mà hằng ngày tại thủ đô Hà Nội, ở các công viên, trước các sứ quán, trên vệ đường dẫn vào các cơ quan đầu não của quốc hội, nhà nước và chính phủ, có từng đoàn người tụ tập, nêu cao các biểu ngữ và hô to các khẩu hiệu tố cáo chính quyền địa phương tham nhũng, ăn cướp đất đai, nhà cửa của nhân dân. Trong các năm gần đây, người ta còn tố cáo đích danh cơ quan Thanh tra chính phủ, thậm chí Thủ tướng chính phủ, hoặc một số cơ quan chức năng ở trung ương đã bao che cho tham nhũng cướp bóc tài sản của dân lành. Rồi thỉnh thoảng lại có người tự thiêu vì oan ức không được giải quyết, có người phải chết trong lúc đi kêu oan, có người đã dùng súng bắn vào cán bộ, nhân viên của cơ quan quản lý đất rồi tự sát…
    Nhà nước và chính phủ Việt Nam thật tình rất muốn chấm dứt tình trạng người dân khiếu kiện, nhất là những vụ “khiếu kiện đông người, kéo dài, phức tạp”, nên đã liên tục sửa đổi, bổ sung luật đất đai, luật tố cáo, khiếu nại, liên tục ban hành các nghị định để thực hiện các luật nầy và cũng rất nhiều thông tư, quyết định, chỉ thị liên quan đến việc tiếp dân, giải quyết đơn thư của công dân. Nhưng theo số liệu của chính ngành thanh tra, số vụ khiếu kiện về đất đai cứ mỗi năm một nhiều hơn lên. Tại sao thế? Vì nhà nước đang chấm dứt khiếu kiện bằng những biện pháp làm bùng lên phong trào khiếu kiện, chẳng khác nào chửa lửa bằng xăng dầu. Chỉ cần tiếp cận với người dân đi khiếu kiện với tinh thần hết sức khách quan, cầu thị, sẽ thấy ngay điều đó.
    Làm sao có thể chấm dứt khiếu kiện khi mà chế độ “đất đai thuộc sở hữu toàn dân” vẫn được duy trì như là nguyên tắc cốt lõi của chủ nghĩa xã hội. Trên thực tế đây là thời cơ béo bỡ của các nhóm tham nhũng vì họ còn được quyền tha hồ thu hồi đất, tha hồ định giá đất. Đối với người dân, đây là một sự ngang ngược trắng trợn của nhà nước, một sự phản bội, tráo trở đối với công dân sau khi hòa bình lập lại trên đất nước. Vì trên cơ sở của chế độ nầy, luật pháp cho phép các cơ quan chính quyền được nhân danh các mục tiêu phát triển kinh tế để vô hiệu hóa và dẫm đạp lên ngay cả những quyền của người sử dụng đất đã được chính luật pháp của nhà nước nầy minh định.
    Làm sao người dân có thể chấp nhận mà không khiếu kiện đến cùng khi mà mãnh đất của minh, do tạo lập hợp pháp hoặc do ông cha để lại, bỗng nhiên bị nhà nước “thu hồi” và bồi thường cho một số tiền không đủ mua lại 5%-10% diện tích đất đã mất. Mà mất đất thì thường là kèm theo mất nhà cửa, vườn tược, mất nghề nghiệp, việc làm. Đất đai còn thuộc sở hữu toàn dân thì sẽ không bao giờ hết dân oan và hết tình trạng khiếu kiện.
    Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng là một thứ dung dịch kích hỏa, làm cho bùng phát mạnh mẽ hơn lên chứ không giúp làm giảm đi phong trào khiếu kiện của dân oan. Hầu hết các dự án đầu tư có thu hồi đất là do chủ trương của tỉnh, thành phố, được tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo chặt chẽ. Quận huyện, thị xã chỉ là cấp ban hành các văn bản cụ thể trong quá trình tổ chức thực hiện. Khi người dân khiếu kiện, phải bắt đầu gởi đơn cho Quận, huyện, thị xã. Nếu không được giải quyết thỏa đáng, người dân mới được quyền khiếu kiện lên UBND tỉnh, thành phố. Khi UBND tỉnh, thành phố có quyết định giải quyết lần hai thì coi như có hiệu lực thi hành. Tỉnh, thành phố có chủ trương và làm sai; dân khiếu kiện thì chính tỉnh và thành phố là người có trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết. Nếu người dân kiện ra tòa án, thì chánh án tòa án tỉnh, thành phố cũng là tỉnh ủy viên, thành ủy viên, là người trực tiếp chỉ đạo xử kiện.
    Khi người dân khiếu nại hoặc kiện chính quyền ra tòa về đất đai thực chất là dân tranh chấp với chính quyền, nhưng cách giải quyết như quy định của pháp luật hiện nay, hoàn toàn giống như kiểu chính quyền “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Kẻ làm sai bị người dân khiếu kiện lại chính nó hoặc là thằng anh em ruột thịt của nó đứng ra phân xử, giải quyết. Bao giờ người dân mới được nhìn thấy công lý? Người dân có thể đầu hàng chịu chấm dứt khiếu kiện trước thứ cơ chế quái đản như thế hay không?
    Cách nhìn nhận và đối xử của chính quyền với dân oan cũng là một thứ xăng dầu châm thêm vào ngọn lửa khiếu kiện.Hễ ai có ý kiến khác thì coi như chống đối; ai có lời nói hoặc bất cứ hành vi nào, cho dù dưới hình thức rất ôn hòa và trong phạm vi pháp luật cho phép, chống lại việc làm sai trái của chính quyền thì bị đối xử như kẻ thù địch. Cho nên mặc dù từ tổ chức đảng, cho tới mặt trận, đoàn thể đều đều quy định là cán bộ phải luôn luôn gắn bó, lắng nghe và tôn trọng tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân; nhưng suốt quá trình đi khiếu kiện, chỉ có lực lượng công an là người thường xuyên “sát cánh” với dân oan. Khi đến trụ sở chính quyền để gặp UBND, khi đến trụ sở tiếp công dân để tiếp xúc với đại biểu quốc hội, Hội đồng nhân dân, v.v… ở đâu người dân cũng được công an tiếp đón. Thậm chí người đi khiếu kiện còn được anh em mời về trụ sở công an phường, xã hoặc cử người đến tận nhà, có mang theo cả dùi cui, còng số 8 để “thăm hỏi” và “tìm hiểu”.
    Trên báo mạng, người ta thấy Ban vận động Hiệp hội dân oan Việt Nam đã và đang làm thủ tục để công khai thành lập hội. Một trong những mục tiêu của hội là lập hồ sơ các vụ khiếu kiện đông người, kéo dài, gởi đến cơ quan có trách nhiệm để chính quyền xem xét giải quyết dứt điểm. Họ đã có thơ xin được tiếp xúc với lãnh đạo đảng CSVN, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, Bộ Nội vụ…
    Nhưng, mặc dù có đăng ký trước, trong những ngày 21, 22-01-2014, đi đến đâu cũng chẳng có cán bộ nào tiếp họ, chỉ có bộ phận bảo vệ, gác cỗng, tiếp dân… tiếp xúc và khuyên họ nên trở về địa phương đăng ký gặp Đại biểu hội đồng nhân dân hoặc tổ đại biểu quốc hội của tỉnh, thành phố. Trong khi đó, ngay từ khi ra khỏi nhà để đi Hà Nội, lực lượng công an đã cho người bám theo lên đến sân bay, ở khách sạn nơi họ nghỉ, trong quán ăn và đến từng nơi họ cần đến, kể cả trong lúc họp nội bộ tại nhà Bà Lê Hiền Đức họ cũng cử người theo dõi.
    Trong những ngày gần đây, 4 trong số những người ở thành phố Hồ Chí Minh tham gia ra Hà Nội để đến các cơ quan chức năng vận động thành lập Hiệp hội dân oan, đã nhận được giấy mời đến cơ quan công an địa phương để “trao đổi” những vấn đề có liên quan đến việc vận động thành lập hội.
    Có lẽ nhà cầm quyền cho rằng ngăn cản việc thành lập Hiệp hội dân oan cũng là một trong những biện pháp nhằm chấm dứt tình trạng khiếu kiện của dân oan!?
    Đây là giấy mời của CA phường thuộc quận 2 TP HCM gởi cho một số người đã ra Hà nội
    liên hệ với các cơ quan chức năng để vận động thành lập Hiệp hội dân oan Việt Nam

    Cứ thế, thay vì nhìn thẳng vào thực tế vấn đề để giải quyết đúng pháp luật, đúng đạo lý, thì với quyền lực trong tay, chính quyền tìm đủ mọi cách để dập tắt việc khiếu kiện của người dân. Những thủ đoạn thường thấy là tuyên truyền ầm ĩ cho mục đích và tác dụng tốt đẹp của dự án đang làm, trong khi người dân đã thấy đó chỉ là những việc làm có lợi cho phe nhóm; Coi những người đang khiếu kiện, không chịu nhận tiền bồi thường và giao đất là thiếu hiểu biết, không hưởng ứng chủ trương chính sách, bị kẻ xấu xúi giục, chống đối lại chính quyền; trong khi người dân chỉ chống lại việc cán bộ cố ý làm trái pháp luật nhằm thu lợi bất chính; Cho công an theo dõi, sách nhiễu, đe dọa thậm chí bắt bớ, giam cầm những người bàn bạc, liên kết nhau để khiếu kiện tập thể trong khi đó là những việc làm chính đáng, hợp pháp của công dân; Bắt, bỏ tù người có hiểu biết và có ảnh hưởng nhất trong số dân oan với lý do “cầm đầu, xúi giục”, “gây rối nơi công cộng”, “chống người thi hành công vụ” hoặc nhiều lý do khác… để trấn áp, ngăn chận phong trào khiếu kiện; Bắt bẽ về thủ tục giấy tờ, kéo dài thời gian, chuyển đơn đi lòng vòng để làm cho người dân mệt mõi, chán nản; đó là chính quyền tự mình vi phạm quy trình giải quyết khiếu kiện đã được pháp luật quy định; Gây chia rẽ, nghi kỵ nhau trong nội bộ dân oan; hù dọa, mua chuộc, đánh lừa những người nhẹ dạ… bất chấp đạo lý.
    Chính quyền và cách tổ chức giải quyết khiếu kiện quá ư vô lý hiện nay đã duy trì và làm tăng thêm các vụ khiếu kiện “đông người, kéo dài và diễn biến phức tạp”.
    Cùng một cách làm sai trái, cùng một cách giải quyết ngang ngược, coi dân như cỏ rác, chính quyền đã đẩy hằng trăm hằng ngàn người vào tình cảnh khốn khổ; nhưng khi dân cần khiếu kiện thì phải từng người làm đơn riêng lẻ và chỉ được tiếp xúc, trình bày khi được chính quyền gọi đến. Làm sao mà người dân thấp cổ bé miệng, ít hiểu biết có thể đối đáp với những “ông bà cán bộ” đã được trang bị đủ thứ quy định pháp luật và có cả một quyết tâm rất lớn là phải chứng minh cho bằng được chính quyền bao giờ cũng đúng. Không tập trung đông người để khiếu kiện thì làm sao người dân chất phác mở miệng được với những kẻ già mồm lẽo mép, bất chấp sự thật và công lý.
    Chính quyến muốn chuyển sai thành đúng, nói đúng thành sai thì phải kéo dài việc giải quyết khiếu kiện để tìm cách đối phó. Người dân muốn lật mặt kẻ đang nắm quyền hành đã và đang cố tình đổi trắng thay đen để làm giàu trên xương máu của nhân dân, cũng không thể trong một ngày một bữa. Việc khiếu kiện kéo dài là vì vậy.
    Việc khiếu kiện của dân oan ban đầu đơn giản là đòi hỏi những quyền lợi chính đáng và hợp pháp: một chỗ ở ổn định, một diện tích đất tương đương hoặc một số tiền bồi thường đủ để tạo lập lại số tài sản đã mất. Thế nhưng bị bác bỏ yêu cầu rồi bị gán ghép cho đủ thứ động cơ, kể cả ý đồ chính trị, người dân bắt buộc phải có suy nghĩ về trách nhiệm và tình cảm của chính quyền đối với nhân dân. Nhất là khi vác đơn đi tới đâu, họ cũng chỉ thấy cấp trên bao che cho cấp dưới, cấp dưới đổ thừa là đã làm đúng theo chỉ đạo của cấp trên, người dân oan phải tự điều chỉnh lại niềm tin đã dành cho chế độ và đồng thời phải điều chỉnh cả phương pháp đấu tranh đòi hỏi quyền lợi của mình.
    Về phía chính quyền, sau khi làm nhiều cách mà vẫn không dập tắt được, cách dễ nhất để giải thích về việc người dân cứ kéo dài khiếu kiện là gán ép cho họ động cơ chính trị, hoặc ít nhất cũng là bị các thế lực thù địch đứng phía sau xúi giục. Như thế diễn biến phức tạp là do ai?
    Một số quan chức cao cấp ở trung ương đã đề xuất một số biện pháp chửa cháy, có độ nhạy lửa cao hơn cả xăng máy bay như: phải cưỡng chế những đoàn khiếu kiện đông người quá khích, đặc biệt là những đoàn mang màu sắc chính trị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh; bắt buộc người khiếu nại tố cáo phải ứng ra một khoản tiền đặt cọc khi đi khiếu nại; công an được phép nổ súng vào những người chống người thi hành công vụ ( trong đó có cả những vụ giải tán những người đi khiếu kiện đòi đất đai!)
    Có lẽ khi phát biểu như trên, các quan chức nầy nghĩ rằng trong hằng triệu dân oan Việt nam, chỉ có một Đoàn văn Vươn và một Đặng Ngọc Viết. Nếu có ai tiếp tục manh động, cứ cho vào tù hoặc đưa về bên kia thế giới, là xong.
    Từ ngôi cao của quyền lực, định tính một cách chủ quan cho một thực trạng xã hội rồi quyết đoán các biện pháp chữa trị sai lầm mang tính giải quyết triệu chứng cấp thời, vô tình chính quyền đã làm cho căn bệnh dân oan khiếu kiện thêm phần trầm kha.
    Thực tế đã chứng minh, ở nông thôn, để lấy được 1 ha đất, chính quyền phải mất ít nhất trên 10 người dân đang ủng hộ mình. Chính quyền trấn áp, gây oan sai, phẩn uất cho một người, sẽ có hằng trăm người khác đứng lên phản đối nhà nước. Ở đô thị, việc giải tỏa nhà ở của dân, cũng kéo theo hệ quả tương tự. Điều đó đã rõ như ban ngày. Nhưng có lẽ những kẻ có dính líu quyền lợi và trách nhiệm trong những dự án có thu hồi đất đã bị đồng tiền che khuất nên vẫn chưa nhìn thấy./.


    24.3.14

    DỰ ÁN VẬN ĐỘNG PHONG TRÀO DÂN SỰ BẢO VỆ DÂN SINH MÔI TRƯỜNG




    DỰ ÁN VẬN ĐỘNG
    PHONG TRÀO DÂN SỰ BẢO VỆ DÂN SINH MÔI TRƯỜNG

    Tác giả dự án: Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
    Ý tưởng dự án:
    - Cần giải thích trung thực và thẳng thắn rằng tác giả không xây dựng dự án này để tạo ảnh hưởng cá nhân, mà chỉ muốn đóng góp cho xã hội dân sự Việt Nam bằng vào những phong trào dân sự hành động vì người nghèo, những người bị tổn thương do vấn nạn thu hồi đất và nạn nhân môi trường.
    - Dự án này có thể được vận dụng tại nhiều địa phương tùy theo các đặc điểm và điểu kiện, với nhiều tên gọi và hình thức khác nhau.
    - Trước mắt, có thể dùng hình thức “phong trào” cho dự án như một phương thức mang tính tập hợp rộng rãi nhiều thành phần.
    - Trong giai đoạn đầu, Phong trào có thể được triển khai ở miền Bắc với sự tham gia của giai tầng dân oan đất đai Văn Giang, Trịnh Nguyễn, Dương Nội…, cùng một số trí thức đồng cảm với nông dân. Tác giả dự án đề xuất một số trong những trí thức này có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo Phong trào như luật sư Lê Thị Công Nhân, bà Lê Hiền Đức, nhà văn Nguyễn Tường Thụy, TS. Nguyễn Xuân Diện, TS. Nguyễn Quang A, luật sư Nguyễn Văn Đài…
    - Phong trào cũng cần được triển khai ngay ở khu vực miền Trung với người dân các tỉnh Đắc Lắc, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên… là nạn nhân của đợt xả lũ thủy điện vào nửa cuối năm 2013.
    Dưới đây là bản luận chứng khung về Phong trào:

            Tính cấp bách của Phong trào:
    Sau gần bốn chục năm từ khi đất nước thu về một mối, chưa bao giờ Việt Nam lại rơi vào tình cảnh kinh tế lụn bại, nạn tham nhũng và các nhóm lợi ích mặc sức hoành hành, xã hội nhiễu nhương đạo lý, chính trị bất nhất đạo đức, người dân phẫn uất… như hiện thời.
    Những người dân mất đất do nạn trưng thu đất đai vô lối, những người dân phải chịu thảm cảnh môi trường do thái độ và hành vi vô trách nhiệm của quan chức chính là nạn nhân đỉnh điểm của cơn khủng hoảng xã hội.
    Trong cơn khủng hoảng đầy u uất đó, rất nhiều người muốn có một sự thay đổi lớn lao.
    Làm sao để có được sự thay đổi ấy?
    Xã hội dân sự và các phong trào dân sự là một trong những phương cách tốt nhất để tạo nên sự thay đổi cấp thiết đó.
    Được sinh ra từ lòng xã hội dân sự, phong trào dân sự không phải là một khái niệm cao siêu mà giai cấp nông dân và công nhân không thể với tới được. Ngược lại, hoạt động dân sự trong xã hội dân sự là những gì thiết thân và gần gũi nhất với đời sống dân sinh, nhằm hỗ trợ giải quyết một cách thấu tình đạt lý những bức xúc của dân chúng liên quan đến nhiều chủ đề thiết thực trong hiện tồn Việt Nam như tham nhũng, đất đai, môi trường, quyền lợi người lao động, thị trường, các chính sách công bất hợp lý…
    Đó là những cơ sở để thành lập một phong trào hỗ trợ nông dân, công nhân và nạn nhân môi trường.
    Phong trào dân sự có thể có một trong những tên gọi sau:
    Phong trào Dân quyền
    Phong trào Dân quyền Việt Nam
    Phong trào Dân quyền và nhân quyền
    Phong trào Bảo vệ dân sinh môi trường
    Phong trào Dân sinh, Dân chủ và Dân trí
    ……..
      Tính pháp lý của Phong trào:
    Phong trào hoạt động dựa trên:
    - Hiến pháp năm 2013 về các quyền công dân về việc lập hội.
    - Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Nhà nước Việt Nam đã ký kết vào năm 1982, về các quyền dân sự của người dân như lập hội nhằm mục tiêu hoạt động xã hội.
    - Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc mà Nhà nước Việt Nam trở thành thành viên chính thức vào tháng 11/2013 với nhiệm kỳ 2014-2016.
                                             Định hướng của Phong trào:
    - Phong trào hướng đến việc hỗ trợ, giúp đỡ những người dân, khu vực dân cư bị tổn thương, thiệt hại bởi các tác động tiêu cực từ thu hồi đất, môi sinh, môi trường làm việc và môi trường tự nhiên.
    - Những lĩnh vực mà Phong trào chú trọng tác động là đất đai, môi trường.
    - Những đối tượng mà Phong trào tác động là nông dân chịu tác động tiêu cực bởi việc thu hồi đất, công nhân chịu tác động tiêu cực bởi điều kiện làm việc, người dân chịu tác động tiêu cực bởi sự tàn phá môi trường; các doanh nghiệp là chủ thể gây ra những bất công về dân sinh, đất đai môi trường; các cơ quan quản lý nhà nước cùng các chính sách, văn bản bất hợp lý, bất công liên quan; các tổ chức quốc tế liên quan đến những lĩnh vực hoạt động của Phong trào.
    - Phong trào có phạm vi hoạt động trên toàn quốc, tập trung vào những tỉnh, thành phố xảy ra tình trạng tiêu cực gay gắt đối với dân sinh, đất đai và môi trường.
                     Mục tiêu của Phong trào:
    - Hỗ trợ người dân giải quyết phần nào những thiệt thòi phải gánh chịu từ các chính sách bất hợp lý và bất công, quá trình thực hiện chính sách thiếu công bằng hoặc phát sinh tiêu cực
    - Hỗ trợ nông dân và thị dân giải quyết những bất hợp lý và bất công liên quan đến đất đai như cơ chế thu hồi đất, giá cả bồi thường, chế độ cưỡng chế, tái định cư, việc làm sau giải tỏa, hành động khiếu kiện và khiếu tố, những trường hợp bị bắt giữ, bắt giam và chịu án do đấu tranh phản đối bất công trong thu hồi đất…
    - Hỗ trợ công nhân giải quyết những bất hợp lý và bất công liên quan đến điều kiện làm việc như chế độ lương, cường độ làm việc, chế độ nghỉ việc, bị đối xử thô bạo hoặc bị bạo hành tại nơi làm việc…
    - Hỗ trợ người dân giải quyết những bất hợp lý và bất công liên quan đến môi trường như nạn ô nhiễm môi trường trong không khí, sông hồ và dưới lòng đất, tình trạng xả lũ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh mạng và môi trường, tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi gây ảnh ưởng đến môi trường sống và môi trường tự nhiên…
    - Kêu gọi, vận động các tổ chức quốc tế liên quan đến những lĩnh vực hoạt động của Phong trào, kể cả những nhà nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ Phong trào và tác động đến Nhà nước Việt Nam nhằm giải quyết và khắc phục tình trạng tiêu cực về dân sinh, đất đai và môi trường.
         Phương châm hành động của Phong trào:
    - Phong trào là một thành phần của Xã hội dân sự ở Việt Nam, lấy mục tiêu xã hội làm trọng yếu.
    - Phong trào hành động theo phương châm “Công bằng, bền vững và vì mọi người” của các tổ chức phi chính phủ tại các quốc gia phát triển trên thế giới.
    - Phong trào hoạt động theo phương châm ôn hòa, bất bạo động, không nhằm mục tiêu thay thực hiện hành vi chính trị như thay thế hoặc lật đổ chính quyền.
               Phương pháp hành động của Phong trào:
    - Vận dụng hệ thống truyền thông với vai trò đặc biệt của báo chí trong nước và quốc tế nhằm chuyển tải những nội dung cần cảnh báo, phân tích, điều tra, tố cáo.
    - Tiếp cận chặt chẽ với người dân và những đối tượng bị tổn thương bởi bất công xã hội. Xây dựng các nhóm hành động công bằng trong nông dân, công nhân và thị dân.
    - Thực hiện hình thức thu thập chữ ký trên mạng và trên giấy đối với các văn bản liên quan đến đến nội dung hoạt động của Phong trào như Tuyên bố, Kiến nghị, Thông báo… Tổng hợp chữ ký được gửi đến các cơ quan chức năng của chính quyền và những doanh nghiệp liên quan.
    - Gửi đơn thư khiếu nại và kiến nghị trực tiếp đến các cơ quan chính quyền và doanh nghiệp, hoặc gián tiếp qua mạng Internet hoặc bưu điện.
    - Trong hình thức kiến nghị trực tiếp, Phong trào tổ chức nhóm làm việc, trao đổi, đối thoại với các cơ quan chính quyền và doanh nghiệp liên quan.
    - Phối hợp và liên kết với các tổ chức phi chính phủ quốc tế nhằm tác động đến các cơ quan chính quyền, doanh nghiệp có liên quan ở Việt Nam.
    - Tổ chức sinh hoạt về các chủ đề kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa, khoa học với hình thức diễn giả và hội thảo, tọa đàm.
    - Thực hiện những hình thức phản biện và phản đối khác nếu thấy cần thiết.
            Tổ chức của Phong trào:
    - Phong trào là tập hợp tự nguyện của trí thức, công nhân và nông dân - những người tự nguyện dấn thân vì cộng dồng, không phân biệt thành phần và tôn giáo. Phong trào mong mỏi nhận được sự tham gia và hỗ trợ của thành phần trí thức đương nhiệm trong hệ thống đảng và chính quyền.
    - Ban điều hành: Phong trào được đại diện bởi ban điều hành. Ban điều hành được phân công hợp lý theo các lĩnh vực phụ trách.
    - Địa điểm sinh hoạt: Phong trào cần có một địa điểm thường xuyên để sinh hoạt về thông tin và phương thức, cách thức đấu tranh đòi quyền lợi.
    - Tài chính: do sự đóng góp tự nguyện của các thành viên tham gia. Phong trào kêu gọi tấm lòng hảo tâm tương thân tương ái của các doanh nghiệp, trí thức và người dân trong nước và hải ngoại.
    - Đào tạo: Phong trào chú trọng đến hoạt động đào tạo về kỹ năng truyền thông, vận động, diễn giả, đối thoại với cơ quan công quyền và doanh nghiệp, luật pháp…
    * Lộ trình và hành động cụ thể của Phong trào:
    - Phong trào ra tuyên bố hình thành.
    - Dân oan và người chịu tổn thương ký tên vào Tuyên bố của Phong trào.
    - Phong trào ký tên bên cạnh kiến nghị, khiếu nại của dân oan.
    - Các cuộc khiếu kiện của dân oan mang danh nghĩa Phong trào, có biểu ngữ của phong trào.
    - Gửi Tuyên bố của Phong trào cho các các tổ chức nhân quyền và môi trường quốc tế, được dịch sang tiếng Anh và Pháp.
    - Vận động giới truyền thông quốc tế đưa tin bài về các vụ việc khiếu kiện.
    - Người của Phong trào và dân oan phối hợp đến các cơ quan công quyền, đại biểu, doanh nghiệp và báo chí để gửi đơn thư khiếu nại, tổ chức đối thoại và chất vấn.
    - Tổ chức văn phòng pháp lý giúp dân oan.
    - In tờ rơi về nội dung khiếu nại và quyền con người để phát cho người dân.
    - Tổ chức sinh hoạt chuyên đề, trao đổi thông tin, hội thảo, tọa đàm và định hướng đưa tin bài.
    - Tổ chức đào tạo các kỹ năng, phối hợp với các tổ chức quốc tế.
    - Tổ chức đào tạo và thực hành kỹ năng diễn thuyết.
    - Tổ chức cho thành viên đi học ở nước ngoài về xã hội dân sự và hoạt động phi chính phủ.
    - Vận động trí thức trong đảng và người dân tham gia Phong trào.
    - Liên kết với một số hội đoàn nhà nước như Hội đất đai, Hội thủy lợi, Hội thủy sản, Hội môi trường, Liên đoàn lao động…
    - Kiến nghị với ngành công an về một số vấn đề bảo vệ trật tự trị an xã hội.
    - Hỗ trợ người dân hiểu biết hơn về quyền con người và các quyền dân sự mà họ có để khiếu kiện và đấu tranh. Hỗ trợ người dân biết và hiểu những kết quả có được từ đấu tranh chủ yếu xuất phát từ tác động của dân chúng và quốc tế chứ không phải từ các cơ quan công quyền vô cảm.
    - Phong trào có thể phối hợp với các nhóm xã hội trong tôn giáo như Công giáo, Phật giáo hòa hảo thuần túy, Phật giáo.
    - Vận động các tổ chức quốc tế bảo trợ và tài trợ cho hoạt động nghiên cứu về xã hội dân sự và phong trào dân sự quần chúng tại Việt Nam.
            Liên kết và hợp tác quốc tế:
    - Phong trào tiến hành mối liên kết và hợp tác sâu rộng với những tổ chức phi chính phủ quốc tế về những vấn đề dân sinh, đất đai và môi trường.
    - Phong trào cần đặc biệt lưu tâm để có mối quan hệ gắn bó với những tổ chức phi chính phủ quốc tế có mối quan tâm đến tình trạng bất bình đẳng trong xã hội Việt Nam như DANIDA (Đan Mạch), SIDA (Thụy Điển), Global Witness (trụ sở tại Anh), Tổ chức Hòa bình xanh, Chữ thập đỏ quốc tế…
    - Phong trào hướng đến việc tiếp nhận sự hỗ trợ của các nhà nước và cơ quan ngoại giao quốc tế để hình thành và phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam.
    -------------------
    Tác giả dự án này mong đợi những phong trào dân sự bảo vệ quyền lợi và sinh mạng người nghèo sẽ được triển khai tại các địa phương trong tương lai không xa.

    Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
    ĐT: 01235459338


    Được đăng bởi Dân Oan Việt Nam


    18.3.14

    Họp mặt các tổ chức Xã hội dân sự tại Sài Gòn


    Họp mặt các tổ chức Xã hội dân sự tại Sài Gòn 
    Các tổ chức xã hội dân sự gặp mặt tại Sài Gòn.

    Châu Văn Thi (Cựu tù nhân Lương tâm Việt Nam) 
     - Lúc 14h ngày 14/03/2014, các tổ chức xã hội dân sự đã tổ chức họp mặt tại chùa Liên Trì, quận 2, thành phố Sài Gòn. Tham dự buổi họp mặt có đại diện các tổ chức: Cựu tù nhân lương tâm, Phụ nữ nhân quyền Việt Nam, Hội Dân oan Việt Nam. 


    Đến tham gia có các cựu tù nhân lương tâm, blogger, nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền như: ký giả Trương Minh Đức, nhà báo Phạm Chí Dũng, Đại đức Thích Không Tánh, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Phạm Bá Hải, Châu Văn Thi, Huỳnh Trọng Hiếu, Nguyễn Ngọc Hà, Nguyễn Thanh Phong, Trần Thị Hài, Nguyễn Công Ngữ… Nhân dịp này đại diện Hội cựu tù nhân lương tâm và Hội phụ nữ nhân quyền cũng trao 2 phần quà trị giá 10 triệu đồng cho 2 người chồng của tù nhân lương tâm Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Thị Tuyền (Cờ Đỏ, Cần Thơ) là Phạm Văn Cờ và Trương Văn Thạnh. Hai tù nhân lương tâm này bị kết án lần lượt là 3 năm và 2 năm 6 tháng cho tội “gây rối trật tự công cộng”; nguyên do là từ ngày 20-22/8/2013 họ đã biểu tình ở UBND Cần Thơ để đòi lại phần đất bị thu hồi, đền bù không thỏa đáng. Đại đức Thích Không Tánh cũng đại diện Hội CTNLT trao phần quà trị giá 6 triệu đồng cho cựu tù nhân lương tâm Nguyễn Ngọc Hà.

    Đại diện hội CTNLT, PNNQ trao quà.

    * Phát biểu tại cuộc họp mặt, tiến sĩ Phạm Chí Dũng phát biểu:

    Hôm nay là buổi gặp mặt mang tính lịch sử vì đây là lần đầu tiên các tổ chức xã hội dân sự ngồi lại với nhau, để hướng tới một mục tiêu chung: làm cho xã hội Việt Nam tốt hơn!

    Tiến sĩ Dũng cũng cho rằng:

    Lúc này là thời điểm thích hợp để xây dựng một phong trào xã hội dân sự và liên kết các tổ chức lại với nhau cùng phát triển. 

    Tiến sĩ Phạm Chí Dũng phát biểu.

    * Bác sĩ Nguyễn Đan Quế nói với Hội Phụ Nữ Nhân Quyền:
    Phụ nữ là vốn quý và chiếm một vị trí không hề nhỏ trong một xã hội văn minh, tự do; vì vậy việc các phụ nữ đứng lên đòi hỏi nhân quyền, quyền bình đẳng cho chính mình và cho xã hội là một việc làm đáng hoan nghênh, cần phải tiếp tục phát huy.

    Ông cũng đặc biệt tỏ lời khen ngợi với các cựu tù nhân lương tâm đã và đang kết nối những thành viên lại với nhau đấu tranh cho một xã hội Việt Nam không còn tù nhân lương tâm…

     Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và tiến sĩ Phạm Chí Dũng trao đổi cùng nhau.

    * Dân Oan Huỳnh Kim Lương đại diện các dân oan nói lên nỗi bức xúc của mình:

    Hồi xưa, các ông ấy có gì ngoài cái nón cối và đôi dép râu đi từ trong rừng ra? Người dân miền Nam có nhà, có đất đã che chở cho các ông ấy để vào Sài Gòn. Bây giờ “giải phóng” 38 năm rồi mà người dân chúng tôi không có gì, còn các ông ấy lại có tất cả. Các ông ấy đã phản bội lại lời của ông Hồ Chí Minh:”Không có gì quý hơn độc lập tự do”, độc lập tự do để rồi nông dân mất nhà mất đất sống vỉa hè vậy sao? Chúng tôi đã lớn tuổi, sức cùng, lực kiệt nhưng sẽ chiến đấu hết mình cho đất nước có dân chủ, nhân quyền!

    Một số hình ảnh từ buổi họp mặt:

    Dân oan chụp ảnh lưu niệm cùng bác sĩ Nguyễn Đan Quế và tiến sĩ Phạm Chí Dũng.


    Thầy Thích Không Tánh trao đổi cùng bác sĩ Nguyễn Đan Quế.

     


    9.3.14

    ĐƠN TỐ CÁO ĐỐI VỚI BIÊN BẢN SỐ 26/BB- UBND- TTCP ĐỀ NGÀY 10 - 01-2013 CỦA THANH TRA CHÍNH PHỦ và UBND TPHCM


    CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    TP.Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 03 năm 2014
    ĐƠN TỐ CÁO
    (Đ/v Hành vi lén lút, vụng trộm của ông Lê Minh Trí - phó CTUBND TPHCM. Hiện nay là phó Ban Nội chính TW cấu kết với phó Tổng Thanh tra Chính Phủ; Ra văn bản bịa đặt, vu khống nhằm lấp liếm, bao che cho hành vi phá nhà, cướp tài sản, chiếm đất của tôi. Để báo cáo gian dối lên Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. )

    Kính gửi ÔNG NGUYỄN BÁ THANH
    TRƯỞNG BAN NỘI CHÍNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG


    Đồng K/gửi : CÁC PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN , BÁO GIỚI


    Người tố cáo : Nguyễn Xuân Ngữ, sinh năm: 1943, CCB, CBHT, con LS.
    Chủ quyền hợp pháp nhà, đất số 166/6 KP Mỹ Thành, P. Long Thạnh Mỹ, Q9
    CMND số: 023030668, cấp ngày 13/9/2004, tại TPHCM
    Hiện bị chính quyền quận 9 ( gồm quận ủy và UBND quận – viết gọn là CQQ9 ) đuổi ra khỏi nơi ở hợp pháp dồn vào khu tập trung ( như mô hình khu trù mật, khu dồn dân để chiếm đất của thời Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu) .
    Địa chỉ liên lạc hiện nay: P.C9, khu nhà trọ số 41, đường Tăng Nhơn Phú, Khu Phố 2, Phước Long B, Quận 9, TPHCM
    Người bị tố cáo : - Ông Lê Minh Trí nguyên phó CTUBNDTpHCM
    Hiện đang là Phó Ban Nội chính Trung ương.
    - Bà Lê Thị Thủy – Phó Tổng Thanh tra Chính phủ ,
    Nước Cộng hòa xã Hội chủ nghĩa Việt Nam
    - Ông Vũ Huy Tác – Phó Cục trưởng Cục III
    Thanh tra Chính phủ, tổ trưởng tổ công tác
    Cơ sớ pháp ý để tố cáo;
    Căn cứ Điều 19 Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 ngày 11/11/2011 .
    Căn cứ khoản 2 Điều I, quy định số 94/QĐ-TW ngày 15 / 10 / 2007 ; Phạm vi đối tượng xử lý kỷ luật của Ban Bí thư Trung Ương Đảng .
    Nội dung tố cáo:
    I . Hành vi ban hành biên bản gian dối, xảo trá của Thanh tra Chính phủ và ông Lê Minh Trí phó CTUBTPHCM, hiện là phó Ban nội chính TW

    Ngày 22/01/2014 ( Ngày 22 sắp Tết Giáp Ngọ ) tôi đến Trụ sở tiếp công dân của TW Đảng và Nhà nước tại Hà nội. Tôi nhận được tờ “BIÊN BẢN THỐNG NHẤT GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC số 26/BB- UBND- TTCP đề ngày 10 - 01-2013 ( BB26BB) vụ việc ông Nguyễn Xuân Ngữ tố cáo lãnh đạo UBNDQ9 vi phạm pháp luật trong dự án Khu Công nghệ cao quận 9 TPHCM ” do ông Lê Minh Trí, lúc đó là Phó chủ tịch UBND TPHCM , nay là phó Ban Nội chính TW và bà Lê Thị Thủy phó Tổng thanh tra Chính phủ nước CHXHCNVN ký .
    Khi nhận tờ biên bản này, tôi thật sự bất ngờ. Bất ngờ vì :
    Với cương vị như bà phó Tổng thanh tra Chính phủ Lê Thị Thủy, ông phó Ban nội chính Trung ương Lê Minh Trí, và ông Cục phó Cục III Thanh tra Chính phủ Vũ Huy Tác. Tôi nghĩ, lẽ ra các cán bộ cấp Trung ương này không những phải nghiêm chỉnh chấp hành mà còn phải gương mẫu thực thi Hiến pháp và pháp luật .
    Nhất là trong năm qua cán bộ, đảng viên đều được học tập Nghị quyết TW4, và cuộc vận động học tập, làm việc theo tấm gương đạo đức Bác Hồ, nên ít nhiều cũng có tác động trong suy nghĩ về lời dạy của Bác Hồ.
    “ Thanh tra là tai mắt của trên , là người bạn của dưới ”
    Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều làm đầy tớ của nhân dân – Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi và nước mắt của nhân dân mà ra – Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân…”
    Bác quan tâm đối với việc khiếu nại, tố cáo của người dân, đã căn dặn nhắc nhở cơ quan hữu trách, và cán bộ viên chức làm công tác này.
    “ Đồng bào có oan ức mới khiếu nại,…. Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào thấy rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng đến quyền lợi của họ, do đó ”
    “ Quan điểm của chúng ta đối với những điều nhân dân kêu với chúng ta
    Một là, người ta kêu về những cái bản thân người ta bị thiệt thòi; Hai là người ta kêu về những cái người ta thấy không đúng trong công việc của chúng ta, trong đội ngũ các bộ của chúng ta, người ta tố cáo những cái không đúng đó, trách nhiệm của những người ở cơ quan Nhà nước đồng thời cũng là những người ở cương vị lãnh đạo của Đảng …trách nhiệm tối thiểu của chúng ta là phải giải quyết những điều người ta kêu với chúng ta. Những người đó là Nhân dân, các tầng lớp nhân dân, những người bị thiệt, những người có điều uất ức trong lòng ”.
    Vậy mà ông phó Ban Nội chính Trung ương lại cùng với một số cán bộ lãnh đạo của Tổng Thanh tra Chính phủ; Cơ quan thường trực phòng chống tham nhũng chụm nhau lại lén lút, viết ra một văn bản là “Biên bản thống nhất giải quyết vụ việc số 26/BB- UBND- TTCP đề ngày 10 - 01-2013 ( BB26 ) vụ việc ông Nguyễn Xuân Ngữ tố cáo lãnh đạo UBNDQ9 ” với lời lẽ hoàn toàn bịa đặt, vu khống để báo cáo lừa dối Thủ tướng Chính phủ, lừa dối Quốc Hội, đúng là dối Đảng, hại dân, đây có lẽ là bản chất của ông Lê Minh Trí như Báo Người cao tuổi đã viết bài “ Những tiếng chuông cảnh báo ” đăng 07/8/2009 khi ông Trí còn làm CTUBND quận 1 TPHCM ( xem ở phần cuối đơn .)
    Bản này không phải là quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo, không phải là quyết định đình chỉ KN,TC. Biên bản này mang tính báo cáo Thủ tướng để lấy thành tích, lợi dụng lòng tin của Thủ tướng Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền cấp trên và lừa dối công luận, càng gieo vào người dân thêm bức xúc vì oan ức!
    Bằng chứng :
    Tài sản hợp pháp của tôi :
    - Nhà và đất của tôi có giấy chứng nhận QSDĐ ( có sổ đỏ ). Là một trang trại được xây dựng công phu, có địa thế ven bờ sông, môi trường tốt.
    - Với mô hình V.A.C có thể thu nhập lâu dài hàng tỷ đồng mỗi năm, từ các nguồn:
    - Hoa quả Sa kê, nhãn, xoài xanh, mít, chôm chôm Thái lan.
    - Dược liệu : Lá Sa kê, Đinh lăng, Diệp Hạ châu, Trinh nữ Hòang cung …
    - Gia cầm Gà Tây, ngỗng, vịt xiêm, gà ác, gà sao, các loại động vật quý hiếm Tắc kè, Nhím, Trăn, Gấu ngựa…( nuôi hợp pháp )
    - Thủy sản : Cá chình, cá bống mú, hàng tấn Ba Ba, Rùa.
    - Ngoài ra còn thu từ dịch vụ : câu cá , cầu lông …

    http://www.youtube.com/watch?v=4kupqUyv3Jc

    Địa thế nhà, đất, trang trại của tôi nằm bên bờ của nhánh sông Đồng nai, môi trường trong sạch, mát mẻ, thuận tiện giao thông thủy bộ và du lịch sông nước .
    Với một trang trại bề thế, nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế gia đình. Trước khi xây dựng trang trại này tôi đã tìm hiểu và được biết sau này là khu dân cư nhà vườn cây xanh…Mặc dù nhà, đất của tôi cách xa tường xây bao phân cách khu công nghệ cao với bên ngoài khoảng 2 đến 3km, nhưng chính quyền quận 9 ( viết gộp cả quận ủy và ủy ban quận 9 – CQQ9 ) lợi dụng việc lấy đất cho dự án công nghệ cao ( CNC ), để manh tâm chiếm đoạt . Cụ thể là :
    - Ngày 05 / 5 / 2003 CQQ9. Dùng quyết định thu hồi đất của phường Long Bình ( P.khác ) để kiểm kê lấy đất của tôi.( Tôi không dùng cụm từ thu hồi đất, vì toàn bộ việc lấy đất của 3099 hộ dân không có quyết định thu hồi đất. Không tống đạt QĐ thu hồi đất đến cho từng hộ gia đình theo quy định của pháp luật : LĐĐ 2003 – kể cả LĐĐ1993, sđbs 1998,2001) .
    Nội dung sự việc như trong Báo Phụ nữ ngày 04 -9-2008 có bài viết :
    MẬP MỜ ĐỀN BÙ GIẢI TOẢ ”
    - CQQ9 nói “ thu hồi ” đất của tôi cho dự án CNC; nhưng lại đề nghị tôi nhận cho một gia đình ( 2 vợ chồng + 1 đứa con ) người thân của ông Nguyễn Văn Út trưởng ban bồi thường (BBT ) vào ở lâu dài ? Tôi không chấp nhận, nên nảy sinh mâu thuẫn…( Nay ông Út lên làm Chánh Văn phòng UBNDQ9 ).
    - Đầu năm 2004 CQQ9 nói tôi nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( sổ đỏ ) để kiểm tra tính pháp ý ( Thật – giả ) cho việc tính giá trị bồi thường. Thậm chí, tạo cớ làm tin, CQQ9 nói tôi làm đơn đề nghị để tín chấp cho tôi 700, triệu đồng. Nhưng giữ luôn giấy CNQSDĐ không trả tôi. Đồng thời đẩy nhà đất của tôi vào cảnh quy hoạch treo .
    - Ngày 13/ 11/ 2004 tôi đã gửi đơn đến CQQ9 cho biết đất, nhà của tôi có nằm trong quy hoạch không ? Nếu không nằm vào quy hoạch, tôi hoàn trả lại tiền và trả lại tôi sổ đỏ, CQQ9 im lặng không trả lời. Đây là hành vi lừa gạt để chiếm giấy tờ trước và chiếm đoạt tài sản sau.
    - Ngày 21/12/2005 CQQ9 đơn phương ban hành quyết định tính giá trị bồi thường tài sản của gia đình tôi .(TGTBTTS) số 3144/QĐ-UBND-BBT, đề ngày 21/12/2005. Tính bồi thường, chỉ tính một phần tài sản nhà tôi không tính hết. Nghiêm trọng hơn là Nhà, đất, tài sản của tôi hoàn toàn chưa có một văn bản mang tính pháp lý nào để khẳng định là nằm vào dự án CNC phải bị thu hồi:
    - Không cung cấp thông tin : lý do, mục đích thu hồi đất.
    - Không thực hiện quy định tại Điều 32, LĐĐ 2003.
    - Không công bố bản đồ quy hoạch chi tiết 1/2000 khu CNC theo quy định của Pháp luật, thì cơ sở nào để biết nhà và đất của tôi có nằm vào diện tích quy hoạch ? và DT thu hồi là bao nhiêu để tính bồi thường ? ( Điều 24 Nội dung quy hoạch chi tiết quản lý quy hoạch xây dựng. Điều 32 Công bố quy hoạch xây dựng. Điều 33 Cung cấp thông tin về quy hoạch xây dựng – Luật xây dựng )
    - Không có quyết định thu hồi đất và không tống đạt QĐ thu hồi đất đến gia đình tôi theo quy định của LĐĐ 2003.
    Khoản 3 Điều 53 NĐ 84/2007 . Quyết định thu hồi đất phải được gửi đến người có đất bị thu hồi và …”
    - CQQ9 nêu căn cứ Luật đất đai đã được thông qua tháng 11/ 2003 ( có Điều 145 ) nhưng không áp dụng một Điều, khoản nào của LĐĐ 2003 ; Mà CTQ9 tính giá bồi thường lại áp dụng LĐĐ1993, 1998, 2001 đã hết hiệu lực pháp luật từ 5 năm trước.
    Căn cứ Nghị định 22/CP…Căn cứ Quyết định số 121QĐ.” ( Hai văn bản này hướng dẫn thi hành LĐĐ 1993…2001)
    - Đất, nhà của tôi tại Khu phố Mỹ Thành, P.Long Thạnh Mỹ. Ủy ban Q9 lại dùng QĐ 2193 của UBTP thu hồi đất của P.Tăng Nhơn Phú A và Tăng Nhơn Phú B làm căn cứ pháp lý để buộc nhà và đất của tôi vào “đối tượng” phải bị thu hồi !?
    - CQQ9 còn dùng thủ đoạn : cho Ban bồi thường (BBT ) liên thông với TANDQ.9 và Phòng kế hoạch tài chính Q.9, cấu kết lập ra 2 tờ biên nhận giả (bút lục số 410 và BL số 409) nói có người đã góp tiền mua chung đất với tôi taị 166/6 này. Tiếp theo, Tòa án Q9, VKSNDQ9, Ban bồi thường Q9, chính quyền phường đến kiểm kê tính giá trị tài sản nhà và đất của tôi ( Bút lục từ số 347 đến BL số 351 ) để đòi chia tiền bồi thường. Tôi kiện việc này Tòa án Q.9. Vụ việc này kéo dài 6 Phiên Tòa (3 Sơ Thẩm + 3 Phúc Thẩm) mới được xử lý rõ thật giả, đúng sai.
    Sau vụ lập chứng cứ giả vừa nêu trên CQQ9 thua kiện, Chủ tịch UBQ9 lại trắng trợn lập mưu kế lừa gạt :
    Khi giao tiền bồi thường cho tôi, Ban bồi thường Q9 cấu kết với chủ tịch UBND p. Long Thạnh Mỹ ông Cao Văn Hoàng, in tờ cam kết để thực hiện hành vi lừa tôi ký bằng thủ đoạn xếp kẹp sẵn vào giữa 2 tờ : Tờ phiếu chi 100 triệu đồng và tờ biện bản bàn giao tiền bồi thường : “ TỜ CAM KẾT GIAO MẶT BẰNG” cho nhân viên làm ra vẻ phục vụ chu đáo, đưa đến trước mặt nói tôi ký, cũng may tôi phát hiện ra, nếu sơ ý, ký vào là mất trắng toàn bộ nhà, đất, tài sản vào tay CQQ9 ( Trị giá khoảng 6-70 tỷ ) nói theo dân dã, đây là hành vi lưu manh “ bút sa gà chết ” còn nói gì được !
    Ngay sau khi nhận QĐ bồi thường số 3144/ tôi đã làm đơn khiếu nại. Yêu cầu CQQ9 giải quyết những hành vi sai trái trên ( cơ sở pháp lý nào nói nhà đất của tôi nằm vào quy hoạch khu CNC. Tại sao nêu căn cứ pháp lý là LĐĐ 2003 nhưng tính bồi thường lại áp dụng LĐĐ1993, 1998, 2001 )
    Quyết định cưỡng chế hành chính tàn phá hủy diệt san bằng trang trại của tôi không phải cho dự án khu CNC mà cho Cty tư nhân T.C làm kho chứa hàng kinh doanh tạp vụ.
    Ngày 3/4/2009 UBND Q9 ra Quyết định số 13/QĐ-UBND về việc cưỡng chế hành chính, do Phó chủ tịch Nguyễn Văn Thành ký thay với lý do : “ Điều I. Nay áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính đối với hộ ông Nguyễn Xuân Ngữ ….về việc không nghiêm túc thi hành quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 27/ 6 /2002 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh …”
    Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 27/6/2002 của UBND TPHCM về việc thu hồi đất giao xây dựng Khu công nghệ cao, để thu hồi đất và cưỡng chế thu hồi đất của gia đình tôi là mang tính bịa đặt, vu khống nhằm chiếm đất của tôi và trả thù tôi không có 2 tỷ..như ông phó CTUBQ9 Nguyễn Văn Thành gợi ý và không cho người nhà ông trưởng BBT vào ở lâu dài, mà còn bị tôi tố cáo quyết liệt, bị nhiều cơ quan báo đưa lên công luận . Nhất là trong khi gia đình tôi chưa bao giờ nhận được, chưa bao giờ nhìn thấy Quyết định số 2666/QĐ-UB ngày 27/6/2002. Tôi đã có văn bản yêu cầu Chủ tịch UBND TPHCM và Ủy ban Nhân dân (UBND) Quận 9, giao cho tôi Quyết định  này. Nhưng đến nay đã hơn 10 năm, Ông Chủ tịch UBND TPHCM và UBND Quận 9 vẫn chưa giao và không thông báo lý do tại sao ?
    Quyết định 2666/QĐ-UBND không nêu rõ khả năng đất của tôi trong phạm vi điều chỉnh của quyết định này. Tóm lại, đến thời điểm 01/07/2004 (thời điểm Luật Đất đai 2003 có hiệu lực) không có bằng chứng xác định Quyết định 2666/QĐ-UBND nêu trên liên quan trực tiếp đến đất của nhà tôi (nếu có, đề nghị UBND Q9 cung cấp bằng chứng).
    UBND Q9 cho rằng họ áp dụng khoản 3 điều 39 Luật Đất đai 2003 để cưỡng chế thu hồi đất đối với tôi, trích dưới đây:
    " Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi đất thì ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế".
    - UBND Q9 cho rằng tôi không chấp hành quyết định thu hồi đất của UBND Thành phố (Quyết định 2666/QĐ-UBND).
    - Nếu đúng vậy, UBND Thành phố phải ra quyết định cưỡng chế và UBND Q9 không có quyền ra quyết định cưỡng chế thay UBND Thành phố.
    Nói cách khác, UBND Q9 đã thừa nhận họ ban hành quyết định cưỡng chế sai thẩm quyền, sai hình thức, sai nội dung, sai tính pháp lý, vì cưỡng chế tại thời điểm tháng 05/2009 phải tuân theo Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của CP
    Theo Điều 60, việc cưỡng chế thu hồi đất đã không đảm bảo những điều kiện :
    Thực hiện đúng trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định tại các điều 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 Nghị định này.
    Tôi không thấy UBND Q9 đã thực hiện trình tự thủ tục theo Điều 53 NĐ84/ về quyết định thu hồi đất.
    Khoản 3 Điều 53 NĐ 84/2007 . Quyết định thu hồi đất phải được gửi đến người có đất bi thu hồi và được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất bi thu hồi trong suốt thời gianđến thời điểm kết thúc thu hồi ”
    Theo đó, phải có quyết định thu hồi đất chung kèm theo danh sách đất, tên người bị thu hồi, quyết định thu hồi đất riêng đối với từng thửa đất, tên người và phải gửi đến người có đất bị thu hồi, niêm yết tại trụ sở UBND cấp xã. Tôi cho rằng UBND Q9 không thực hiện đúng theo Điều 58 Nghị định này.
    Nói tóm lại quyết định 2666/QĐ là quyết định thể hiện chủ trương thu hồi đất chung nên không xác định ranh giới cụ thể , chỉ nêu chung chung thu hồi đất trong khu vực gồm các phường Tân Phú, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B, Long Thạnh Mỹ và Phước Long B thuộc quận 9 và giao cho ban quản lý dự án khu CNC TP HCM . Là quyết định hành chính chỉ đạo điều hành giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Không phải là quyết định thu hồi đất theo LĐĐ 1993 hay LĐĐ 2003.
    Ngoài ra QĐ cưỡng chế nhà tôi số 13 này, có nêu căn cứ các văn bản pháp luật hiện hành, ( LĐĐ 2003, NĐ 84/2007…), nhưng thực tế không thực hiện một điều khoản nào của các văn bản này, mà áp dụng các quy định hết hiệu lực ( NĐ22 và QĐ 121/UBTP )
    Đặc biệt QĐ 13 có nêu căn cứ QĐ 422/QĐ-UBND-TTr ngày 23/10/2006 của Chủ tịch UBNDTPHCM (?). Thực tế hơn 7 tháng sau, ngày 20/11/2009 : CQQ9 thừa nhận QĐ 422 là của Chủ tịch UBNDQ9 (!)…CQQ9 nêu trong QĐ cưỡng chế để các cơ quan hữu quan cấp trên và công luận cho rằng ; việc KN của tôi đã được cấp trên ban hành QĐ giải quyết KN lần 2, Vì tôi ngoan cố không chấp hành nên họ có lý do cưỡng chế .. và đây là hành vi lạm dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước để thực hiện ý đồ mờ ám chiếm đoạt tài sản, đất đai của tôi.
    Việc phó chủ tịch ký, thay mặt ( TM.) Chủ tịch ký QĐ CCHC nhà tôi là không đúng thẩm quyền.
    Do những hành vi sai trái của CQQ9 và UBNDTP HCM nêu trên. Trong hơn 10 năm qua, theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo ( KN,TC ) và quy định thẩm quyền giải quyết. Tôi đã gửi đơn KN,TC, đơn kiến nghị, đơn kêu cứu, kêu oan đến các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền từ cấp quận, đến thành phố Hố Chí Minh. Đơn tôi gửi đều bị chuyền qua, chuyền lại rồi chìm trong im lặng.
    Vì lẽ đó tôi mới phải gửi đơn lên các cơ quan hữu quan của Trung ương và các cơ quaan truyền thông Báo giới. Đã có trên 10 cơ quan Báo chính thống và Đài truyền hình TW đã có bài viết liên quan đến hành vi sai trái cùa CQQ9 đối với việc chiếm đất trái pháp luật của tôi .
    Sau đó tôi đã nhận được giấy báo tin : Ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch nước qua văn bản số 78/VPCTN-PL, ngày 21/ 01/ 2010 gửi CTUBTPHCM xem xét, giải quyết đơn khiếu nại, kêu oan của tôi …
    Hai văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng “ giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạo kiểm tra nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Xuân Ngữ, có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật ; báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ ” Văn bản thứ 2 số 6687/ VPCP-KNTN ngày 21/09/2010 … “ Văn phòng Chính phủ đề nghị đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả giải quyết khiếu nại của ông Ngữ trước ngày 15/10/2010.” (văn bản số 4642/VPCP-KNTN ngày 06/07/2010 xin gửi kèm )
    Cùng với các văn bản chỉ đạo nêu trên, nhiều phiếu chuyển, công văn của các UB Quốc Hội, của các cơ quan TW Đảng, của nhiều đại biểu QH chuyển đến UBTPHCM. Trong đó có Văn bản của Đại biểu Quốc hội Trần Thị Quốc Khánh chất vấn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về trường hợp có liên quan đến nhà, đất, tài sản hợp pháp của tôi bị UBNDTPHCM và UBQ9 chiếm đoạt trái pháp luật. đã kéo dài nhiều năm không được chính quyền Q9 và UBTPHCM xem xét giải quyết !: Bà Trần Thị Quốc Khánh cũng có văn bản khác, gửi đích danh đến ông nguyên Bộ Trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc số 128/CV-ĐB đề ngày 23/ 9 / 2010.
    Ngoài ra còn rất nhiều văn bản khác, như :
    Ông Nguyễn Minh Thuyết với cương vị là Đại biểu Quốc khóa XII có văn bản số 183/ CV-ĐB đề ngày 24/ 9 / 2010 gửi đích danh đến ông nguyên Tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền . …( xin gửi kèm các phiếu chuyển ...).
    Tất cả những văn bản chỉ đạo, kiến nghị của TW gửi xuống, CTUBNDTPHCM đều làm ngơ, chỉ khi có công văn của Cục cảnh sát Điều tra về tôi phạm TTQL kinh tế và Chức vụ gửi đến UBNDTPHCM, thì UBTPHCM vội vã ban hành văn bản số 227/UBND-PCNC đề ngày 19/01/2011 do ông Nguyễn Thành Tài ký gửi đến các cơ quan hữu quan của TPHCM và nhiều cơ quan của TW nhằm bao che chạy tội cho những cán bộ lãnh đạo chủ chốt từng tham nhũng đất đai và đã nhiều lần công khai ăn hối lộ trong CQQ9, nói chung và phó chủ tịch phụ trách nhà đất Nguyễn Văn Thành nói riêng.
    Nội dung trong văn bản số 227/UBND hoàn toàn là lời bịa đặt, vu khống bỉ ổi vô liên sỉ của các cán bộ khai gian lý lịch chui vào đảng, văn hóa chưa học hết cấp một phổ thông , vốn là cò đất cho người có tên là Trầm Bê nào đó. Nguyễn Văn Thành cũng là kẻ
    reo rắc nạn tham nhũng đất đai ở TPHCM nói riêng và cả nước hiện nay nói chung, phó chủ tịch Thành nhả ra câu nào, Nguyễn Thành Tài lại đớp ngay câu đó, rồi phụt ra làm ô uế môi trường pháp luật.
    Sau khi hủy diệt tàn bạo và cướp đoạt tài sản của tôi, ngày 11/6/2009 bà Nguyễn Thị Lê phó Bí thư thường trực quận uỷ Q9 mời tôi đến họp, bà giả vờ ngỡ ngàng, và thương hại: “ Không ngờ sự việc lại nghiêm trọng đến thế …Tôi thấy sức khỏe của ông Ngữ dạo này sa sút quá … ” ngày 09/8/2009 Phan Nguyễn Như Khuê Bí thư quận Uỷ quận 9 mời tôi tiếp xúc, ông ta giả nhân giả nghĩa, ăn năn làm như ân hận hối tiếc, trước khi kết thúc buổi họp ông Khuê miệng nói xoen xoét:
    Thứ nhất: Lãnh đạo quận chúng tôi rất trân trọng gia đình Ông Ngữ đã sớm tham gia CM và có nhiều công lao đóng góp cho hai cuộc kháng chiến …”
    Thứ 2: Lãnh đạo quận cũng rất trân trọng Ông Ngữ đã có nhiều năm tham gia chiến đấu tại chiến trường Miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ, nay luôn chấp hành mọi chính sách của Đảng và Nhà nước, sẳn sàng hợp tác với địa phương trong việc phát triển kinh tế…”.
    - Ông Khuê thừa nhận:
    Lãnh đạo quận có sơ sót là thiếu kiểm tra, tin vào việc chắp bút của các Ban, Ngành tham mưu cho Lãnh đạo Quận, viết văn bản báo cáo không coi lại kỹ nên để xảy ra sự việc đáng tiếc: Ông Ngữ là người không có tội, lại bị cho là có tội…!? Tôi sẽ chỉ đạo cho UBND quận tiếp tục mời Ông để làm rõ từng vấn đề nhưng là lời nói suông của một Thành Ủy viên ,TPHCM. ( Kẻ nói suông này nay được bổ nhiệm là Chánh Văn phòng Thành ủy ! Chánh Văn phòng của một Đảng bộ lớn nhất nước là con người như vậy? thì dân còn biết dựa vào ai? ).
    Nhưng đến nay vụ việc vẫn chưa được giải quyết. Thực tế, phần diện tích đất này vẫn thuộc chủ quyền của gia đình tôi vì việc thu hồi đất của Chính quyền Quận 9 và UBND TPHCM là trái pháp luật và diện tích đất này vẫn đang tranh chấp. Chưa có quyết định thu hồi.
    Thế nhưng hiện nay toàn bộ diện tích đất nhà tôi CQQ9 đã giao cho Cty thương mại tư nhân T.C không sử dụng làm kho chứa hàng cho CNC như CQQ9 và UBND TPHCM nói là thu hồi đất cho CNC. Tôi đã có yêu cầu CQQ9 và UBND TPHCM không được xâm phạm diện tích đất nhà tôi nhưng hiện nay họ đã xây dựng mấy gian nhà kho.
    Ngày 27/3/2013, tôi nhận được Thông báo số 73/TB-UBND “về chấm dứt thụ lý giải quyết vụ việc tố cáo của ông Nguyễn Xuân Ngữ, quận 9”. Trong Thông báo này có nội dung căn cứ Luật tố cáo số 03/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Công văn số 2695/TTCP-VP ngày 19/10/2012 của Thanh tra Chính phủ về hướng dẫn ra thông báo chấm dứt giải quyết khiếu nại, tố cáo…. Sau khi tìm hiểu, tôi được biết, Công văn số 2695/TTCP-VP của Thanh tra Chính phủ được ban hành nhằm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trong Mục 1 của Công văn 2695 về quy trình ra thông báo, trong đó nêu rõ, trước khi ra thông báo: Bước 1, phải họp liên ngành tại địa phương; Bước 2, tổ chức đối thoại, “tiến hành tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tố cáo trên tinh thần công khai, dân chủ, qua đó vận động, thuyết phục người dân thực hiện phương án giải quyết (nếu qua đối thoại mà phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất vụ việc thì phải xem xét giải quyết lại để vụ việc đó được giải quyết đúng theo quy định của pháp luật và thấu tình, đạt lý)”. Bước 3, ra thông báo, bước này được thực hiện khi “những vụ việc qua đối thoại, giải thích, vận động, thuyết phục mà người khiếu nại, tố cáo đồng ý với phương án giải quyết, thì ra thông báo kết thúc giải quyết, chấm dứt khiếu nại, tố cáo; nếu đương sự không đồng ý thì ra thông báo chấm dứt thụ lý, xem xét, giải quyết vụ việc”. như vậy, quy trình ra thông báo chấm dứt khiếu nại, tố cáo rất nghiêm ngặt, tuy nhiên cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện đúng theo quy định này.
    Bên cạnh đó, trong Công văn này còn có mục lưu ý khi triển khai “giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài là công việc khó khăn, phức tạp. Do vậy, việc thực hiện quy trình ra thông báo chấm dứt phải được thực hiện đầy đủ và hết sức thận trọng...chú trọng chất lượng của quá trình giải quyết ”.
    Tôi nhận thấy cơ quan có hữu trách chưa thực hiện theo đúng chủ trương, quy
    định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình tôi về kinh tế ( thiệt hại 60-70 tỷ đồng ), tinh thần, sức khỏe hơn 10 năm qua.
    Nguy hại hơn, nội dung trong biên bản để báo cáo lên Thủ tướng Chính phủ và Quốc Hội là gian dối , xảo trá không đúng sự thật.
    II. Nội dung yêu cầu giải quyết: 
    Từ những lý do trên, tôi phản đối hành vi quan liêu, thiếu tư cách của người cán bộ của bà phó Tổng thanh tra Chính phủ. Đặc biệt tôi tố cáo hành vi của Đoàn thanh tra do ông Vũ Huy Tác phó Cục trưởng Cục III Thanh tra Chính phủ, tổ trưởng tổ công tác cùng các thành viên trong tổ này đã có hành vi gian dối báo cáo Thủ tướng Chính phủ sai sự thật, không nêu lên những hành vi có dấu hiệu tham nhũng của UBND TPHCM:
     
    Trên đây tôi tạm nêu sơ bộ một vài sự việc, để chứng minh những hành vi tham nhũng của CQQ9 được liên thông từ cấp quận đến TW.
    Sự việc này liệu có được Bộ Chính trị và Ban chỉ đạo TW về phòng chống tham nhũng, Ban Nội chính TW làm rõ không ?
        - Đề nghị hủy bỏ hoặc thu hồi văn bản số 227/UBND-PCNC, Thông báo số 73/TB-UBND ngày 27/3/2013 của UBND TPHCM do ông phó chủ tịch Lê Minh Trí ký đối với việc tố cáo của tôi. Đồng thời buộc ông Lê Minh Trí phải công khai xin lỗi về hành vi gian dối, bất chính này công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.
         -  Đề nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo UBNDTPHCM nhanh chóng giải quyết hai văn bản chỉ đạo của Thủ tướng số 4642/VPCP-KNTN ngày 06/07/2010 và Văn bản thứ 2 số 6687/ VPCP-KNTN ngày 21/09/2010 về việc khiếu nại, tố cáo của tôi
          - Đề nghị Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Ban Nội chính TW. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cho UBNDTPHCM và cơ quan hữu trách tổ chức buổi giải quyết bằng đối thoại giữa tôi với CTUBNDTPHCM và cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành giải quyết dứt điểm vụ việc, tránh kéo dài, gây ảnh hưởng nhiều mặt đến gia đình tôi.
    Tôi mong nhận được sự quan tâm của Quý cấp Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cơ quan hữu trách sau khi nhận được đơn tố cáo của tôi; đề nghị cho tôi được biết ý kiến đối với nội dung đơn này , bằng văn bản thông báo theo quy định tại điểm b , c khoản 1 Điều 9 Luật Tố cáo số 3 .
    Tôi xin chân thành cảm ơn
                                                     Nguyễn Xuân Ngữ